Sunday, May 11, 2014

• Ai thù, ai bạn? Ðoàn Xuân Lộc

Ai thù, ai bạn?

     

CỘNG SẢN CÒN, ĐẤT NƯỚC MẤT - CỘNG SẢN MẤT, ĐẤT NƯỚC CÒN

• Nhận diện kẻ thù dân tộc - Cựu Chiến Binh

 

 

 

 

 

 

   

KẺ THÙ SỐ 1 của nhân dân Việt Nam:

 

1. Việt Cộng là kẻ nội thù:





 2. Hán Cộng là kẻ ngoại xâm: 


 

 

3. thằng Đầu Sỏ Cộng Sản Nga là kẻ ngoại xâm:

 

 

 

   

BẠN BÈ, đồng minh của nhân dân Việt Nam:

1. MỸ:


2. NHẬT:

 



3. ÚC:


4. ÂU CHÂU:

 

-------------------------------------------


Các hành động ấy cũng là một ví dụ điển hình chứng mình rằng Trung Quốc không phải là một “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” đối với Việt Nam. 

Những hành động hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong những ngày qua cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng làm tất cả để độc chiếm Biển Đông.

Các hành động ấy cũng là một ví dụ điển hình chứng mình rằng Trung Quốc không phải là một “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” đối với Việt Nam.



Mặt thật ‘bốn tốt’

Từ lâu Trung Quốc đã có ý đồ lấn chiếm Biển Đông và trong những năm qua bằng nhiều hình thức khác nhau – như đưa ra đường lưỡi bò hay chế tạo giàn khoan HD 981 – Bắc Kinh đã dần dần biểu lộ cũng như chuẩn bị cho ý đồ đó.



Với việc đưa giàn khoan khổng lồ này cùng với rất nhiều tàu, máy bay tới một vị trí nằm hoàn toàn trong vùng kinh tế đặc quyền (EEZ) của Việt Nam trong những ngày qua, Trung Quốc đã công khai – nếu không muốn nói là ngang ngược, trắng trợn – thực hiện ý đồ bánh trướng ấy.

Nếu coi vị trí đó nằm trong vùng lãnh hải của mình, Bắc Kinh không cần phải huy động đến 80 tàu, máy bay các loại – trong đó có không ít tàu quân sự và tàu hải cảnh – như vậy.

Những việc làm đó của Trung Quốc không khác gì cách Nga thôn tính Crimea của Ukraine. Có thể nói cũng giống như Nga đã làm với Ukraine ở Crimea, Trung Quốc đang tiến hành một cuộc xâm lược đối với Việt Nam ở Biển Đông.

Hơn nữa, những diễn biến mới đây cho thấy vì tham vọng bành trướng của mình, Trung Quốc dám dùng sức mạnh (kể cả vũ lực), bất chấp luật pháp quốc tế và đặc biệt sẵn sàng phớt lờ những cam kết, những lời đường ngọt về tình “bạn”, tình “đồng chí” mà Bắc Kinh đã hứa hẹn, luôn thề thốt với Việt Nam.

Nếu thực sự là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, Trung Quốc không bao giờ lấn chiếm lãnh hải của “láng giềng” mình, đưa giàn khoan, các loại tàu, máy bay vào trong vùng biển của “bạn” mình, hay cho tàu của mình đâm rách tàu của “đồng chí” mình, rồi la làng “đối tác” mình là kẻ gây hấn như vậy.

Nếu là người coi trọng “ổn định lâu dài”, biết “hướng tới tương lai”, giữ gìn “hữu nghị láng giềng” và đề cao “hợp tác toàn diện” – thay vì chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt của mình, dùng sức mạnh để chèn ép Việt Nam, gây bất ổn trong khu vực, Trung Quốc chắc chắn sẽ tìm một giải pháp ôn hòa, có lợi cho cả hai bên trong những tranh chấp ở Biển Đông.

Trong thời gian qua đã có không ít người chỉ trích, phản đối phương châm “bốn tốt” và “16 chữ vàng” này vì cho rằng đó là những lời lừa mị của Bắc Kinh.

Giờ quả đúng như vậy.

Những hành động của Trung Quốc trong mấy ngày qua chứng tỏ phương châm đó chỉ là một khẩu hiệu trống rỗng, một chiêu bài mà Bắc Kinh dùng để ru ngủ hay thậm chí lừa phỉnh Việt Nam.

Trung Quốc không phải – và có thể mãi sẽ không bao giờ – là “bốn tốt” của Việt Nam, trừ phi quốc gia này từ bỏ tham vọng bành trướng và lấn chiếm lãnh hải của Việt Nam.

 
Hết tin ‘bốn tốt’?

Vì vậy, đây có thể cũng là dịp tốt để Việt Nam xem lại quan hệ của mình với Trung Quốc.

Chuyện Việt Nam chịu nhiều thua thiệt, liên lục bị chèn ép về nhiều mặt trong quan hệ với Trung Quốc nhiều người, nhiều bài viết đã nêu lên.

Và có thể giới lãnh đạo Việt Nam cũng biết, hiểu điều đó.

Nhưng có thể vì muốn giữ tình “hữu nghị” giữa hai nước, tình “đồng chí” giữa hai Đảng và đặc biệt có thể vì muốn tìm một giải pháp hòa bình cho những tranh chấp, chính quyền Việt Nam đã chấp nhận nhường nhịn, chịu đựng, kiềm chế trong nhiều năm qua.

Tuy vậy, với thái độ hung hăng, ngang ngược và trắng trợn mới đây của Trung Quốc, xem ra giờ chính quyền Việt Nam đã nhận ra rằng – như ông Ngô Ngọc Thu, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát, biển nói trong cuộc họp hôm 07/05 tại Hà Nội – “mọi sự chịu đựng đều có giới hạn” và cần có biện pháp tương ứng để bảo vệ chủ quyền của mình.

Đó cũng là tâm trạng chung của dư luận và báo chí chính thống ở Việt Nam nói riêng trong mấy ngày qua.

Trong một bài viết đăng sáng 08/05, tờ Nhân Dân viết: “Giới chức Việt Nam khẳng định: Mặc dù ưu tiên sử dụng các biện pháp hòa bình và ngoại giao để giải quyết tình hình, song Việt Nam xác định, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.”

Vì vậy, tờ báo của Đảng nhấn mạnh: “Việt Nam sẵn sàng tiến hành mọi biện pháp cần thiết đấu tranh kiên quyết yêu cầu phía Trung Quốc rút ngay giàn khoan nói trên cùng các tàu, thiết bị, nhân sự có liên quan ra khỏi thềm lục địa của Việt Nam, nhằm bảo vệ các quyền lợi chính đáng của Việt Nam phù hợp luật pháp quốc tế.”

Đây là một thái độ rất ôn hòa nhưng cũng rất cương quyết.

Có thể nói đến giờ chính quyền Việt Nam đã có các biện pháp nhanh nhạy, rất khôn ngoan, thích hợp trong việc đối phó với các hành động hung hăng, khiêu khích, ngang ngược của Trung Quốc trong những ngày qua.

Trong đó có việc Phó thủ tướng Phạm Bình Minh điện đàm với phía Trung Quốc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và kiên quyết phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan vào trong vùng biển Việt Nam, cho tàu ra để kiểm tra, ngăn chặn giàn khoan HD 981 và tổ chức họp báo quốc tế để công khai thông tin về vụ việc và qua đó tỏ rõ lập trường của mình.

Chỉ hy vọng rằng đây không phải chỉ là những phản ứng nhất thời mà là một sự thay đổi về nhận thức, lập trường, chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Nếu không để Trung Quốc dễ dàng chi phối, áp đặt chắc chắn Việt Nam sẽ mạnh dạn hơn trong việc tìm chọn cho mình một đường lối thích hợp. Nhờ vậy Việt Nam cũng tránh được cảnh bị Trung Quốc chèn ép, bắt nạt và có thể tự lập, tự cường.

Phát biểu hôm 08/05, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trình Quốc Bình cho rằng những diễn biến từ mấy ngày qua chỉ là “một sự cố” chứ không phải là một “cuộc đụng độ” giữa hai nước và nói rằng Bắc Kinh và Hà Nội có thể giải quyết tranh chấp trên biển một cách hòa bình.

Nhưng cùng lúc, ông khẳng định: "Nơi xảy ra vụ việc vẫn luôn thuộc về vùng lãnh thổ của Trung Quốc."

Nói cách khác, dù có dịu giọng và tỏ vẻ hiếu hòa, Trung Quốc vẫn cứ đinh ninh rằng vị trí đó thuộc chủ quyền của họ. Thậm chí ông ta phủ nhận chuyện Trung Quốc gây hấn và đổ lỗi cho các lực lượng vũ trang của Việt Nam.

Nhưng dù Bắc Kinh có dịu giọng hay tỏ thái độ hiếu hòa đi nữa, Việt Nam cũng không nên tin vào những lời nói của các quan chức Trung Quốc, vì thái độ “hiếu hòa” ấy có thể chỉ là một mưu kế.

Ai cũng biết “tiến ba, lùi hai” hay thậm chí chỉ “lùi một” là một thủ thuật mà Bắc Kinh thường dùng trong kế sách lấn chiếm lãnh hải tại các vùng biển trong khu vực.

Hơn nữa, càng không thể tin khi Trung Quốc luôn nói một đàng và làm một nẻo. Xem ra giờ nhiều người Việt giờ cũng nhận ra và hiểu rõ điều này.

Trong các phản hồi về bài “‘Trung Quốc dịu giọng, kêu gọi đàm phán” trên Vnexpress chiều 08/05, có một độc giả viết “Không nghe những gì Trung Quốc nói mà hãy nhìn những hàng động thực tế của họ để giải quyết vấn đề” và một người khác viết: “Đừng tin những gì Trung Quốc nói. Hãy xem những gì Trung Quốc làm”.

Phản hồi trước đã có đến 7461 người thích sau 5 giờ và phản hồi sau có 4090 người thích sau 4 giờ.

Nhận ra ai tốt?
Cũng nên nhắc lại, khi cuộc khủng hoảng ở Crimea/Ukraine xẩy ra, một vài tờ báo Việt Nam đã ủng hộ Ngachỉ trích Mỹ.


Nhưng đến giờ, Nga vẫn không lên tiếng gì về chuyện Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam. Hơn nữa, trong khi Trung Quốc và Việt Nam đang căng thẳng về vụ việc này, truyền thông Nga cho hay hải quân Nga và Trung Quốc sẽ có diễn tập quy mô lớn tại Biển Hoa Đông vào giữa tháng này.

Quốc gia công khai lên tiếng chỉ trích hành động “đơn phương” và “khiêu khích” của Trung Quốc lúc này không ai khác là Mỹ.

Ngoài Mỹ, Nhật Bản cũng đã lên tiếng cho rằng việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam là “bất hợp pháp” và “yêu cầu Trung Quốc không có hành động đơn phương khiến tình hình leo thang và kiềm chế theo đúng luật pháp quốc tế.”



Một cách gián tiếp Nhật Bản và đặc biệt Mỹ đã đứng về phía Việt Nam dù Việt Nam không phải là một đối tác chiến lược, càng không phải là một đồng minh của Mỹ.

Đây là một điều tốt và may cho Việt Nam vì Việt Nam không thấy cô thế trong việc đối phó với những hành động gây hấn, hung hăng, ngạc ngược từ Trung Quốc.

Hơn nữa, ngoài Mỹ và một vài nước tương đối mạnh về kinh tế như Nhật, không quốc gia nào có thể kiềm chế được Trung Quốc hay sẵn sàng đứng về phía Việt Nam để công khai chỉ trích Bắc Kinh khi Trung Quốc có những hành động gây hấn đối với Việt Nam.

Đúng vậy, đến giờ chỉ có hai quốc gia này lên tiếng chỉ trích Trung Quốc về chuyện họ đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Vì vậy, hy vọng rằng qua những gì diễn ra trong mấy ngày qua, Việt Nam nhận ra được thực sự ai là “bạn”, ai chỉ là “bè” và ai là “thù” của mình để qua đó có thể tìm cho mình một hướng đi, một đối sách thích hợp, khôn ngoan tại một thời điểm, trong một khu vực và một thế giới có nhiều biến động, bất ổn khó lường.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
VOA


Hỡi tất cả đồng bào Việt Nam ở hải ngoại.
Chống cộng sản Trung Quốc và chống cộng sản Việt Nam phải là một không thể tách rời. Bởi vì nếu chỉ chống cộng sản Trung Quốc thì sẽ làm lợi cho cộng sản Việt Nam. Nếu chỉ chống cộng sản Việt Nam mà thôi thì sẽ gây hào hứng cho Trung Quốc.

Như thế, chúng ta phải sáng suốt không làm lợi cho bất cứ chế độ cộng sản nào. Tổ Quốc Việt Nam chỉ có một và chỉ một mà thôi.

Sau đây là 5 chủ trương mà đồng bào hải ngoại có thể làm được trong tầm tay của mình:

  • 1. Tẩy chay hàng hoá Trung Quốc và Việt Nam.
  • 2. Không gởi tiền về Việt Nam và cũng không về Việt Nam cho tới khi chính quyền cộng sản sụp đổ.
  • 3. Cô lập và tẩy chay những ai có liên hệ phục vụ hay làm tay sai cho cộng sản.
  • 4. Tẩy chay mọi thương thuyết hòa hợp hòa giải với cộng sản Việt Nam.
  • 5. Tẩy chay bất cứ ai coi cờ đỏ sao vàng là ngọn cờ của Tổ Quốc.
Đấu tranh mà không có chủ trương thì sẽ dẫn tới thất bại.

Nếu đồng bào hải ngoại có thể làm được những 5 chủ trương trên kia thì ngày trở lại quê hương của đồng bào sẽ không còn cách xa.

Các bạn trẻ trong và ngoài nước hãy tẩy chay chế độ cộng sản để dương cao ngọn cờ chính nghĩa của Tổ Quốc hầu tránh thêm một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn khốc liệt giống như sấm Trạng Trình đã phán:

"Mười phần chết bảy còn ba,
Chết hai còn một mới ra thái bình."




Nhà Trắng hôm qua cho biết căng thẳng trên Biển Đông xung quanh việc Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu trái phép trên thềm lục địa Việt Nam cần được giải quyết bằng đối thoại chứ không phải bằng đe dọa.

Mỹ phản bác cáo buộc của Trung Quốc về Biển Đông / Ngoại trưởng Mỹ liên tiếp lên án Trung Quốc khiêu khích


Phát ngôn viên Nhà Trắng Jay Carney. Ảnh: AP.

Reuters dẫn lời Jay Carney, người phát ngôn Nhà Trắng, cho biết Mỹ không phải là một bên tranh chấp nhưng Tổng thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm châu Á vừa qua đã liên tục nhấn mạnh sự cần thiết phải đối thoại hòa bình trong những tranh chấp khác nhau liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc.

Đây là lần đầu tiên phủ tổng thống Mỹ đề cập đến vấn đề Biển Đông kể từ hôm 1/5, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép và khiến tình hình thêm căng thẳng.

Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc tăng cao kể từ khi Bắc Kinh hồi đầu tháng triển khai trái phép giàn khoan dầu trên Biển Đông, trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Những vấn đề này "cần được giải quyết thông qua đối thoại, không phải bằng sự đe dọa", ông Carney trả lời trong buổi họp báo hôm qua. "Chúng tôi một lần nữa kêu gọi đối thoại trong cách giải quyết của họ".

Thông báo của Nhà Trắng được đưa ra trong bối cảnh chính sách xoay trục sang châu Á của Tổng thống Obama đang vấp phải một số chỉ trích, cho rằng nó khoa trương hơn thực chất.

Căng thẳng trên Biển Đông diễn ra chỉ vài ngày sau khi ông Obama kết thúc chuyến thăm châu Á hồi cuối tháng 4. Theo đó, Tổng thống Mỹ cam kết rằng Washington sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo vệ các quốc gia đồng minh trong khu vực.

Mỹ cũng là quốc gia đầu tiên bày tỏ quan ngại về tình hình căng thẳng trên Biển Đông dưới nhiều cấp và được lặp lại nhiều lần, thể hiện mối quan tâm của nước này trong sự việc. Bộ Ngoại giao Mỹ và Ngoại trưởng John Kerry đều đã lên tiếng phản đối hành động triển khai giàn khoan dầu ở Biển Đông của Trung Quốc, coi đây là một bước đi "khiêu khích", "gây tổn hại đến hòa bình và an ninh trong khu vực".

Nhiều nghị sĩ của Mỹ, trong đó có thượng nghị sĩ John McCain, chỉ ra rõ ràng trong tuyên bố của họ rằng vị trí mà Trung Quốc đặt giàn khoan thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Mỹ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ, nhưng có lợi ích trong tự do thương mại và hàng hải ở Biển Đông, nơi có nhiều tuyến hàng hải nhộn nhịp giao cắt.



Giàn khoan HD-981 được Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Đông.

Như Tâm


Hậu quả đi dây Trung - Mỹ : 

Ai là kẻ thù số một ?

 "…hiện nay phương Bắc không còn là gây hấn thuần túy mà đã là một mối họa xâm lăng, giàn khoan 981 là một trong những bước đi đầu tiên của Trung Quốc để tạo ra một nền tảng trong chiến lược gây hấn khiêu khích và xâm lấn dài hạn đối với Việt Nam trong tương lai không xa. Mối họa đã rất cận kề..."


TRẦN QUANG THÀNH: Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng, hôm nay lại gặp nhau để bàn về tình hình đất nước. Thưa nhà báo PHẠM CHÍ DŨNG, hội nghị Shangri-la vừa rồi đã để lại điều gì ấn tượng nhất, đáng quan tâm nhất thưa nhà báo?
PHẠM CHÍ DŨNG: Ấn tượng nhất là lời phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh.

TRẦN QUANG THÀNH: Tại sao lại quan tâm về lời phát biểu của ông ta?
PHẠM CHÍ DŨNG: Trong khi tình hình nước sôi lửa bỏng Trung Quốc xâm lấn Việt Nam đã cận kề, ông Đại tướng vẫn cho rằng chưa có gì là biến động cả, mọi chuyện vẫn tốt đẹp, Việt Nam và Trung Quốc vẫn là bạn. Ngay cả ông Đặng Ngọc Tùng Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam còn phải nêu rằng đây là một bài học cho tất cả những ai mơ hồ về 16 chữ vàng và 4 tốt, trong khi một Đại tướng nắm trọng trách toàn bộ lực lượng quân đội Việt Nam mà lại phát biểu như thế thì người ta quá thất vọng. Và rõ ràng là ông Phùng Quang Thanh, mặc dù có tần suất xuất hiện trên báo chí, công luận ít thôi, nhưng lần xuất hiện này lại gây thất vọng rất lớn và có lẽ làm giảm sút đáng kể uy tín của ông không chỉ trong dư luận trong nước mà cả trên chính trường quốc tế.

TRẦN QUANG THÀNH: Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì bảo là Việt Nam đang chuẩn bị sẵn sàng mọi tư liệu, mọi chứng cứ để kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, hoặc là để phanh phui những hành động xâm lược của Trung Quốc. Thế giữa ông Thủ tướng và ông Đại tướng có gì là mâu thuẫn nhau không thưa nhà báo?
PHẠM CHÍ DŨNG: Cả hai ông đều là tướng, nhưng họ có mâu thuẫn và bất nhất với nhau. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một lời tuyên bố tương đối kiên quyết và được dư luận đánh giá là lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ Thủ tướng, ông đã dám có can đảm để nói thẳng ra một điều là “không có tình hữu nghị viển vông”. Tôi đặc biệt chú ý tới tính từ “viển vông” mà ông dùng, đó là một tính từ không nằm trong các văn bản của nhà nước. Trong khi đó văn bản đọc tại hội nghị Shangri-la của Đại tướng Phùng Quang Thanh nghe nói đã được Bộ Chính trị duyệt từng câu từng chữ, và ngay cả cách đọc của ông cũng không được thuyết phục vì nó hơi bị vấp váp. Như vậy giữa hai vị tướng này đã có sự mâu thuẫn về mặt quan điểm đường lối, đối sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, và tôi cho đó không phải là một điềm lành đối với Việt Nam.

TRẦN QUANG THÀNH: Như vậy phải chăng trong Bộ Chính trị đã có sự rạn nứt?
PHẠM CHÍ DŨNG: Tôi nghĩ là rạn nứt thì đã từ lâu rồi. Người ta khác nhau về quan điểm đối ngoại và đặc biệt là khác nhau về quan điểm đi dây như thế nào giữa Trung Quốc và Mỹ. Việc đó đã xuất hiện vào tháng 5 năm 2013 khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Tập Cận Bình và phía Hoa Kỳ là tổng thống Barack Obama tại Phòng Bầu dục ở Washington, và sau đó đến chuyến đi của ông Trương Tấn Sang thì người ta rộ lên những lời đồn đoán về một sự khác biệt nào đó, một sự khác biệt khá lớn. Nhưng chỉ đến gần đây khi mà xảy ra sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm lược lãnh hải Việt Nam thì tất cả những mâu thuẫn mới bộc lộ ra và làm người ta thấy nhiều khác biệt về quan điểm.

Tôi cho rằng rất cần trong lúc này phải có một sự đồng nguyên trong Bộ Chính trị, trên tinh thần dân tộc và cần phải có một Hội nghị Diên Hồng để các vị tướng có thể nói với nhau về làm cách nào để bảo vệ đất nước, bảo vệ cho chính gia đình và cho chính họ. Nhưng rất đáng tiếc là cho tới nay họ vẫn lúng túng và tất cả dường như vẫn đang chờ đợi nhau. Người ta nói rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ đưa ra những lời tuyên bố thẳng thừng, kiên quyết như vậy, nhưng ông ta vẫn phải chờ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị lại chờ vào ông Nguyễn Tấn Dũng, tất cả vẫn đang chờ nhau trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ đang chờ kết quả chuyến đi của ông Phạm Bình Minh Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, còn ông Phạm Bình Minh chắc chắn phải chờ ông John Kerry là Ngoại trưởng Mỹ. Nhưng chuyến đi sắp tới của ông Phạm Bình Minh cũng không suôn sẻ lắm vì ông Phạm Bình Minh lại còn phải chờ Bộ Chính trị, còn cho đến giờ Bộ Chính trị Việt Nam lại đang chờ những động thái của phía Mỹ.

Trong khi đó về phía Mỹ, Tổng thống Obama lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ đã đưa ra lời tuyên bố cứng rắn với Trung Quốc về chuyện khả năng Mỹ có thể đưa binh lực tới khu vực Biển Đông để giải quyết những xung đột vũ trang có thể phát sinh tại khu vực và cũng là để bảo đảm cho những lợi ích của người Mỹ về vấn đề tự do hàng hải, an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông. Đó là một động thái khá kiên quyết về phía Mỹ theo một lối mở mà như tư lệnh của quân đội Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương – ông Locklear – đã tuyên bố, đã bắn tiếng trên Reuters là phía Mỹ có thể xây dựng một đối tác chiến lược với phía Việt Nam. Mà trở thành đối tác chiến lược thì anh có thể hình dung nó cần thiết với Việt Nam thế nào rồi, bởi vì trước đây ông Trương Tấn Sang chưa thể hy vọng việc trở thành một đối tác chiến lược mà chỉ là đối tác toàn diện mà thôi. Đối tác chiến lược ở đây phải nói tới là chiến lược về an ninh và về quốc phòng, đó chính là điều mà người Việt Nam cần nhất hiện nay, hơn cả Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TTP). Chỉ có đối tác chiến lược đầy đủ với Hoa Kỳ mới có thể tạo ra một hàng rào chắn, một lá chắn đủ mạnh, đủ xung lực, đủ hỏa lực để ngăn chặn hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Các động thái gây hấn của Trung Quốc là không chỉ ở Biển Đông mà còn ở biên giới phía Bắc, đó là điều cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam. Nếu như Việt Nam không thể đạt được điều đó thì có thể nói là không có một điều gì, không có một con người nào, không có tài sản của một quan chức nào ở Việt Nam có thể an toàn.

TRẦN QUANG THÀNH: Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay dường như có những mâu thuẫn trống đánh xuôi kèn thổi ngược: ông Nguyễn Tấn Dũng chờ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị lại chờ ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế thì phải chăng có một sự chờ một điều gì khác nữa, đó là chờ vào phương Bắc?
PHẠM CHÍ DŨNG: (cười)... Điều đó tôi chưa nói ra. Đó chính là một sự chờ đợi ngấm ngầm. Nhưng có điều là tôi thực sự không biết chắc là ai đang chờ đợi “phương Bắc”, và nếu có những người chờ phương Bắc thì họ đang chờ đợi điều gì? Có lẽ nào họ chờ đợi một sự bạo động mới như ở Đồng Nai, Bình Dương hay một số nơi nào đó khác chăng? Đó chính là một ẩn số, một câu hỏi rất khúc mắc mà người dân Việt Nam đang rất muốn biết, nhưng cho tới nay chưa ai giải thích rõ ràng rằng lực lượng nào đủ mạnh, tôi xin nhấn mạnh là “đủ mạnh”, đứng sau lưng giật dây bạo động ở Bình Dương và Đồng Nai.

Nếu theo cách tuyên truyền giải thích của một số cơ quan nhà nước về ba “đối tượng” mà người ta cho rằng có sự giật dây của Việt Tân và cung cấp tiền bạc của Việt Tân để tạo ra cuộc xuống đường của hàng chục ngàn công nhân ở Bình Dương và Đồng Nai, thì điều đó quá nguy hiểm đối với nhà nước. Bởi vì chỉ có ba con người mà có thể tạo ra một cuộc bạo động lớn như vậy thì với ba chục hoặc ba trăm người của Việt Tân từ hải ngoại mà về Việt Nam thì sẽ như thế nào? Lý lẽ đó không thuyết phục và dư luận hiện nay vẫn còn đang rất hoài nghi rằng có một lực lượng nào đủ lớn, đủ sâu để có thể chi phối một việc như vậy. Người ta cũng nghi ngờ rằng việc đó có bàn tay của tình báo Hoa Nam Trung Quốc đã tạo ra những cơn kích động sâu rộng có thể gây ra những mầm mống nội loạn ở Việt Nam. Và nếu mầm mống nội loạn ấy đủ lớn thì chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra, đó là lúc mà thể chế chính trị Việt Nam phân hóa sâu sắc và có thể tan rã bởi những động thái giật dây của tình báo phương Bắc. Lúc đó người phương Bắc sẽ tràn vào phương Nam theo những kịch bản đã từng xảy ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử.

TRẦN QUANG THÀNH: Quay trở lại vấn đề Hội nghị Shangri-la, ông đánh giá thế nào về những khác biệt trong hội nghị này? Quốc tế thì rất quan tâm, rất lo ngại cho Việt Nam, ví dụ như Thủ tướng Nhật, nhưng Việt Nam thì lủng củng với nhau như vậy thì liệu chúng ta giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào?
PHẠM CHÍ DŨNG: Tôi không ngạc nhiên về thái độ lủng củng hay là bất nhất, chần chừ của phía Việt Nam, vì điều đó diễn ra từ lâu rồi, đặc biệt là trong mối quan hệ “anh em môi răng” với phương Bắc. Nhưng điều quá khó khăn với họ là thế này: hiện nay phương Bắc không còn là gây hấn thuần túy mà đã là một mối họa xâm lăng, giàn khoan 981 là một trong những bước đi đầu tiên của Trung Quốc để tạo ra một nền tảng trong chiến lược gây hấn khiêu khích và xâm lấn dài hạn đối với Việt Nam trong tương lai không xa. Mối họa đã rất cận kề.

Người ta cũng đã thấy là người Mỹ đưa tay ra. Người Mỹ đưa tay ra vì lợi ích của họ ở khu vực Biển Đông, đó là giao thương hàng hải và tất cả những gì mà họ coi là mặt quân sự có thể chi phối được khu vực, không chỉ là khu vực Nam Á mà cả Đông Á nữa. Trong lúc đó Việt Nam cần phải tận dụng cơ hội này, khi mà ông Locklear Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương ra tuyên bố về khả năng Mỹ và Việt Nam có thể có quan hệ đối tác chiến lược. Tôi cho rằng nhà nước Việt Nam phải bắt nhịp ngay cái tần số và cơ hội đó. Nhưng Hội nghị Shangri-la đã chứng tỏ bản lĩnh quá yếu kém của phía Việt Nam. Hoàn toàn không đạt yêu cầu khi đưa một ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra để chỉ nói những câu văn vẻ không có nghĩa gì hết, gây phản cảm rất lớn trong dư luận, cho thấy một vị thế quá yếu kém của Việt Nam trên chính trường quốc tế. Điều đó gây ra hậu quả là quốc tế họ coi thường Việt Nam, họ đánh giá Việt Nam là chỉ có lời nói mà không có hành động, mà nếu như chỉ có lời nói mà không có hành động thì khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì quân đội Việt Nam sẽ đánh nhau như thế nào đây với một vị Đại tướng nói không nên lời? Đó là điều quá rõ.

Trong khi đó, phía Mỹ đã chủ động đưa ra đề xuất thành lập một khối đồng minh quân sự Đông Á bao gồm người Mỹ, người Nhật Bản, người Philippines và tất nhiên cả Việt Nam. Tôi cho đây là một cơ hội cuối cùng của Việt Nam. Nếu nhà nước Việt Nam không biết tận dụng cơ hội này thì không biết đến bao giờ người Mỹ mới đưa ra cơ hội lần thứ hai, và chắc chắn là trong năm nay sẽ chưa có một hiệp định TTP nào cả, cũng không có vũ khí sát thương nào hết, và sẽ không có bất kỳ một ân hạn nào đối với Việt Nam trong việc giải quyết những lợi ích giữa hai quốc gia Mỹ - Việt.

TRẦN QUANG THÀNH: Việt Nam chủ yếu là mua vũ khí của Nga để phòng thủ đất nước. Việt Nam có hai đồng minh chiến lược khổng lồ là ông Trung Quốc và ông Nga, nhưng vừa rồi khi mà xảy ra vấn đề Biển Đông thì ông Putin lại đứng bên ông chủ tịch Tập Cận Bình. Vậy nhà báo PHẠM CHÍ DŨNG bình luận thế nào về cái ông đồng minh chiến lược Nga?
PHẠM CHÍ DŨNG: Tôi cho rằng ít nhất về vũ khí và khí tài quân sự Việt Nam nhập từ Nga thì chất lượng của vũ khí và khí tài quân sự đó đã không còn bảo đảm nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Thực tế thì Việt Nam nhập khẩu đến 90% vũ khí và khí tài quân sự từ Nga. Chẳng hạn đó là các hệ xe tăng họ T, trước đây là T-34, rồi đến T-54, T-55, sau này là T-72 đến T-90, cũng như một số máy bay SU hay là MIC, hay là tên lửa…, nhưng tất cả những vũ khí như vậy về chất lượng không thể bằng Trung Quốc được. Trong khi đó người Trung Quốc nhập khẩu những vũ khí tối tân hơn hẳn từ Nga, họ có những tàu ngầm rất lớn mà chất lượng quân sự cao hơn hẳn những gì mà Nga bán cho Việt Nam. Như vậy hình ảnh mà Putin đứng cạnh Tập Cận Bình với một hợp đồng khí đốt lên tới hơn 400 tỷ USD trong dài hạn cho thấy chắc chắn là giữa người Nga là ông Putin đã có một thỏa thuận, và thực sự họ là một đồng minh trên một mặt trận đối trọng với người Mỹ. Việt Nam chỉ là một mắt xích nhỏ trong tất cả những mối quan hệ này thôi.

Theo tính toán của Bắc Kinh và Moscow thì sự kết hợp của hai lực lượng này có thể trở thành một siêu cường, và Bắc Kinh đặc biệt mong muốn điều đó, vì Bắc Kinh cho tới giờ chỉ có thể coi là một cường quốc chứ chưa thể gọi là một siêu cường. Nhưng một cường quốc như Trung Quốc vẫn còn khá nhiều vấn đề bổ khuyết, nhất là vấn đề kinh tế và nội chính, nên ông Tập Cận Bình và bộ sậu của ông ta chắc chắn là muốn có một quan hệ sâu sắc hơn với Moscow, bất chấp cuộc chiến từng xảy ra giữa hai quốc gia vào những năm 1960.

TRẦN QUANG THÀNH: Nhìn lại vấn đề Việt Nam trong vòng cả tháng qua, điều gì ông cảm thấy lo lắng nhất và điều gì ông thấy tin tưởng và lạc quan nhất?
PHẠM CHÍ DŨNG: Điều lo lắng nhất cũng trở nên bình thường nhất, vì tôi không ngạc nhiên về những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Sự lo lắng nhất đến từ những yếu kém của nhà nước Việt Nam mà chúng ta vẫn thường gọi là thái độ nhu nhược. Bất kỳ khi nào trong lịch sử Việt Nam diễn ra hiểm họa ngoại xâm thì gần như đều xảy ra những dao động trong nội bộ Việt Nam. Lần này mới chỉ một giàn khoan 981 mà dường như mọi chuyện đã rối tung lên, thì nếu như có thêm vài cái giàn khoan nữa hoặc có thêm một ít động thái quân sự xâm lược khiêu khích và gia tăng vũ trang từ phía Trung Quốc thì không hiểu mọi chuyện sẽ thế nào? Đó là điều đáng lo lắng nhất, nhưng theo tôi cũng trở nên bình thường vì chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra từ trước đến nay trong nội bộ Việt Nam.

Còn điều đáng lạc quan nhất thì thế này, chính ra tôi đã nêu ra với anh TRẦN QUANG THÀNH trong vài bài phỏng vấn trước rằng người Việt Nam chúng ta phải cám ơn Trung Quốc vì họ đã tạo ra sự kiện giàn khoan 981, nhưng họ đã không tính toán kỹ, họ không nghĩ rằng giàn khoan 981 mà đứng phía sau là toàn bộ Bắc Kinh đã tạo ra một sự kích động lớn như thế, làm cho những người theo chủ thuyết ngả sang phương Tây đã dứt khoát, quyết đoán hơn, và dường như đang có một làn sóng chạy về phương Tây vì đó là lối thoát duy nhất. Đó chính là tín hiệu lạc quan nhất, và tôi cho là đó cũng là lối thoát của dân tộc Việt Nam, vì cho tới nay chúng ta cần phải xác định rằng ai là bạn và ai không phải là bạn – là kẻ thù.

Từ trước tới giờ Trung Quốc được coi là đối tác chiến lược lớn nhất của Việt Nam trong số hàng chục đối tác chiến lược mà Việt Nam đã thiết lập, nhiều đến mức mà người ta cho rằng Việt Nam đã bị lạm phát đối tác chiến lược. Vài năm trước khi xảy ra làn sóng đối tác chiến lược của Việt Nam với các nước, đã có nhiều ý kiến nêu rằng quá nhiều đối tác chiến lược thì khi xảy ra tình trạng khó khăn với Việt Nam thì như bị gây áp lực quân sự, chẳng hạn từ Trung Quốc, thì các đối tác chiến lược khác sẽ không có trách nhiệm gì cả, họ xem đó là vấn đề riêng tư của Việt Nam mà thôi, tức sẽ không có một nguồn lực tập trung để giải quyết vấn đề Việt Nam khi mà nguồn lực đó bị dàn trải quá nhiều. Bây giờ hiện thực đó đang xảy ra sờ sờ trước mắt khi mà Trung Quốc gây ra áp lực với Việt Nam, bởi trong những ngày đầu tiên Việt Nam hầu như không được sự lên tiếng ủng hộ nào từ cộng đồng quốc tế. Họ thờ ơ, thậm chí trên kênh CNN toàn là những người đại diện ngoại giao của Trung Quốc phát biểu chứ không phải là đại diện ngoại giao của Việt Nam. Mãi sau này đại diện ngoại giao của Việt Nam mới có cơ hội trên CNN, nhưng đã quá muộn.

Đã đến lúc cần phải xem lại ai là thù, ai là bạn

  • thay vì xác định Mỹ là kẻ thù số một theo truyền thống trước đây của lịch sử chính trị Việt Nam thì hãy nên xem lại rằng kẻ thù đó còn ở quá xa, và từ 40 năm qua kẻ thù số một đó chưa từng làm cái gì xấu xa đối với Việt Nam
  • Ngược lại trong mười năm qua Việt Nam được lợi quá nhiều về kinh tế khi xuất siêu 15-16 tỷ USD vào thị trường Mỹ, trong khi nhập siêu 23-24 tỷ USD từ thị trường Trung Quốc. Vậy thì bất lợi nằm ở đâu, lợi ích nằm ở chỗ nào? 
 Ai xâm lược Việt Nam, ai không xâm lược Việt Nam? Ai chìa tay ra đối với Việt Nam? 
Phải xem lại điều đó để thấy rằng Hoa Kỳphương Tâylối thoát không chỉ với giới chính khách Việt Nam mà còn đối với cả dân tộc Việt Nam trong tương lai.

TRẦN QUANG THÀNH: Xin cảm ơn nhà báo PHẠM CHÍ DŨNG về cuộc hội luận hôm nay.
Trần Quang Thành phỏng vấn nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng